Cố Hòa Thượng Thích Giác Khang

Bạc Liêu

1941

Cố Hòa Thượng Thích Giác Khang

Trong dòng chảy hoằng pháp của Phật giáo Khất sĩ Việt Nam, Cố Hòa thượng Thích Giác Khang được tôn kính như một bậc hành giả tịnh tu mẫu mực, biểu tượng ngời sáng của giới luật và hạnh nguyện khổ hạnh. Suốt cuộc đời hành đạo, Ngài không chỉ giữ gìn nghiêm mật nếp sống y bát chân truyền của Tổ sư Minh Đăng Quang mà còn khéo léo dùng tuệ giác Duy Thức để hiển bày thế giới Tịnh Độ, tiếp dẫn biết bao tâm hồn về bến bờ an vui. Dù báo thân đã hóa cát bụi, xá lợi trang nghiêm và những lời huấn thị tối hậu của Ngài vẫn mãi là ngọn hải đăng soi đường cho hàng môn đồ tứ chúng trên lộ trình tầm cầu giải thoát.

Thân thế và bước đường học vấn thế gian

Cố Hòa thượng Thích Giác Khang, thế danh Tô Văn Vinh, sinh năm 1941 tại vùng đất phù sa tỉnh Bạc Liêu. Ngài được sinh ra và lớn lên trong một gia đình thuần nông chất phác, giàu lòng nhân ái và kính tin Tam Bảo. Thân phụ của Ngài là cụ ông Tô Khanh, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Vén; trong gia đình có mười người anh em, Hòa thượng là người con thứ tám.

Vốn sẵn tính thông minh, mẫn tiệp từ thuở thiếu thời, Ngài được song thân tạo điều kiện học tập chu đáo. Ngài tốt nghiệp bằng Tú Tài thế học và tiếp tục theo học tại Cao đẳng Sư phạm, nuôi chí nguyện mang tri thức phục vụ nhân sinh trước khi bước vào hành trình xuất thế thực thụ.

Xuất gia học đạo và hạnh nguyện nghiêm trì giới luật

Thấm nhuần lý tưởng giải thoát, Ngài cắt ái ly gia, chính thức bước chân vào cửa thiền, tu học theo hệ phái Phật giáo Khất sĩ (thuộc dòng truyền thừa của Tổ sư Minh Đăng Quang). Ý thức được tính chất hệ trọng của sứ mệnh trì gia trì tạng, khi xuất gia, Ngài đã lập một đại nguyện sâu sắc: nếu chưa chứng đắc quả vị A-la-hán thì quyết không thu nhận đệ tử.

Trở thành một vị Sứ giả Như Lai, Hòa thượng lựa chọn trú xứ và trụ trì tại Tịnh xá Ngọc Vân (tỉnh Trà Vinh). Tại đây, Ngài nghiêm trì giới luật vô cùng mật niệm, thể hiện trọn vẹn đức hạnh của một bậc chân tu khổ hạnh:

  • Thân hành đất tôn nghiêm: Ngài trọn đời đi chân đất, không dùng giày dép.
  • Thọ trì nhất tọa thực: Mỗi ngày Ngài chỉ ăn một bữa trước giờ ngọ thông qua việc trì bình khất thực, chỉ nhận vừa đủ một phần ăn và tuyệt đối không tiếp nhận thêm bất cứ vật phẩm hay tiền tài nào khác.
  • Xả ly tiện nghi thế gian: Ngài từ khước hoàn toàn việc nằm giường cao nệm ấm, không ngồi ghế salon hay võng uốn, chọn lối sống đạm bạc, viễn ly.
  • Thiền định miên mật: Mỗi ngày, Hòa thượng đều duy trì một thời thiền định kéo dài liên tục từ 7 đến 8 tiếng đồng hồ, hành trì ngoài trời hoặc dưới các gốc cây đại thụ.

Đạo nghiệp hoằng pháp: Từ Duy Thức Học đến đức tin Tịnh Độ

Trong lộ trình tu tập, Hòa thượng Thích Giác Khang đã trải qua mấy mươi năm chuyên tâm nghiên cứu và thực hành thiền định. Thuở ban đầu, dựa trên kiến thức tư duy, Ngài từng chưa sinh khởi niềm tin nơi pháp môn Tịnh Độ. Tuy nhiên, bước ngoặt đại thừa xuất hiện khi Ngài đi sâu vào nghiên cứu hệ thống Duy Thức Học.

“Tịnh độ nói dóc, làm gì có thế giới có hình, có tướng. Sau đó nghiên cứu về Duy Thức Học, thì hỡi ơi, tôi thấy thế giới Tịnh Độ rõ như trong lòng bàn tay, không cần phải bàn luận tin hay không tin nữa.” — Lời tự bạch định hướng tâm linh của Cố Hòa thượng

Từ sự chứng ngộ nội tâm sâu sắc đó, Ngài đã lựa chọn con đường hướng về Tây Phương Cực Lạc và đem giáo lý này phổ hóa quần sanh. Khi bắt đầu đăng tòa giảng giải Tịnh Độ, Ngài không tránh khỏi những phản ứng trái chiều từ một số huynh đệ đồng môn hệ phái Nam tông. Bằng tâm từ bi và sự thiện xảo, khi đến các tự viện Nam tông, Ngài khai thị theo phong vị Nguyên thủy; khi đến các đạo tràng Bắc tông, Ngài một lòng tán dương Tịnh Độ.

Nhiều lần nhận thấy huyễn thân suy vi, Ngài đã có ý định ẩn tu để vãng sanh, nhưng vì thương xót hàng Phật tử căn cơ còn non yếu, Hòa thượng lại gắng gượng trụ thế để tiếp tục ban rải mưa pháp.

Thời kỳ vãng sanh và những điềm lành hy hữu

Hòa thượng Thích Giác Khang đã đạt đến sự tự tại trước tử sinh khi biết trước ngày giờ xả bỏ báo thân từ rất lâu. Trước khi viên tịch, Ngài cùng các cận sự Phật tử thực hiện chuyến chiêm bái chiêm ngưỡng các thánh tích Phật giáo tại Ấn Độ với dụng ý hóa thân và để lại xác phàm tại đất Phật nhằm tránh sự tổ chức rình rang, tốn kém. Tuy nhiên, trước sự tha thiết khẩn cầu của hàng môn đồ, Ngài đã tùy duyên quay trở về Việt Nam.

Trước khi vãng sanh mười ngày, Ngài bình thản sắp xếp, phân định mọi việc từ đất đai, tự viện cho đến giao phó trọng trách cho các thế hệ hậu học. Sáng ngày 30 tháng 03 năm Quý Tỵ, Ngài triệu tập đại chúng, ân cần dặn dò những lời tối hậu:

"Nếu quý vị thương tôi, kính tôi thì quý vị phải niệm Phật cho được nhất niệm để vãng sanh về với Phật A Di Đà, đó mới là thương là kính. Chứ không phải cầu xin tôi ở lại để quý vị ỷ lại, không tinh tấn tu hành."

Đến giờ đã định, vào lúc 15 giờ 30 phút chiều ngày 09/05/2013 (nhằm ngày 30/03 năm Quý Tỵ, âm lịch), Hòa thượng nằm nghiêng, nét mặt mỉm cười thanh thản, an nhiên thu thần tịch diệt như một giấc ngủ nhẹ nhàng. Ngài trụ thế 74 năm.

Khi Ngài vừa viên tịch, đất trời liên tiếp hiển hiện những điềm lành hy hữu. Ba lần liên tiếp, ánh sáng hào quang rực rỡ xuất hiện trên không trung, mỗi lần kéo dài hơn một giờ đồng hồ làm sáng rực cả một phương trời. Các vầng mây tụ lại biến chuyển sắc màu, khiến cảnh vật và y phục của đại chúng dưới đất cũng chuyển màu vàng, xanh theo ánh mây. Đốm mặt trời xoay nhanh tựa chong chóng, tỏa sắc vàng rực mà mắt trần nhìn trực diện không bị chói lòa. Ngay cả trong đêm làm lễ trà tỳ, ánh hào quang cát tường vẫn tiếp tục thị hiện.

Sau lễ hỏa thiêu, Giác linh Hòa thượng đã để lại kho tàng pháp bảo vô giá với hơn 1.000 viên xá lợi lung linh, bao gồm 60 viên xá lợi đại kích thước, hơn 100 viên kích thước trung bình cùng vô số xá lợi nhỏ với đầy đủ năm sắc màu: vàng, xanh, trắng, đỏ, minh chứng cho công phu tu hành giới định tuệ kiên cố của Ngài.

Cuộc đời thanh bạch, hành trạng nghiêm mật và sự vãng sanh tự tại của Cố Hòa thượng Thích Giác Khang chính là bài học vô ngôn lay động sâu sắc lòng người. Thành kính cảm niệm ân đức giáo dưỡng và thân giáo nghiêm khắc của Ngài. Trước di ảnh và xá lợi trang nghiêm của bậc chân tu, hàng đệ tử và phật tử xa gần xin thành tâm hướng nguyện, quyết chí vâng lời dặn dỗ của Ngài, tinh tấn niệm Phật quy hướng Tây Phương, giữ gìn giới luật để không phụ ơn cứu độ của các bậc Tăng già.

Nguyện cầu Giác linh Hòa thượng thượng phẩm thượng sanh, hội nhập Ta-bà, tùy duyên độ chúng.

Hình ảnh nỗi bật (4)